18/11/2018 Thanh Hoa & Quang Minh
Xác minh điều kiện thi
hành án có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình tổ chức thi hành án,.
Kết quả xác minh là cơ sở để chấp hành viên định hướng giải quyết hồ sơ thi
hành án, đồng thời là căn cứ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ
pháp lý khác trong quá trình tổ chức thi hành án.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì xác minh có được hiểu là "làm cho rõ sự thật qua thực tế và chứng cớ cụ thể" Như vậy, xác minh là tìm hiểu, thu thập các thông tin, tài liệu, chứng cứ từ những sự việc, hiện tượng xảy ra trong thực tế cuộc sống bằng những cách khác nhau để làm sáng tỏ sự thật về một vấn đề nào đó. Xác minh điều kiện thi hành án là việc chấp hành viên, Thừa phát lại thu thập thông tin liên quan nhân than, tài sản, thu nhập của người phải thi hành án, vật, giấy tờ, nhà phải trả… và các thông tin khác có liên quan đến các bên đương sự, phục vụ cho quá trình tổ chức thi hành án. Vấn đề xác minh trong thi hành án được quy định tại Điều 44 Luật thi hành án dân sự (Luật THADS) và được hướng dẫn cụ thể tại Điều 9 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP.
Trong thực tế, việc xác minh điều kiện thi hành án còn gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại.
Trong thực tế, việc xác minh điều kiện thi hành án còn gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại.
Thứ nhất, việc minh bạch tài sản ở nước ta hiện nay còn rất nhiều bất
cập. Việc thanh toán trên thị trường chủ yếu bằng tiền mặt nên khó quản lý
thu nhập, quản lý tài sản của người phải thi hành án. Mặt khác, người phải
thi hành án còn dùng rất nhiều phương thức để tẩu tán tài sản để trốn tránh
việc thi hành án, nhưng pháp luật lại chưa có những cơ chế pháp lý hữu hiệu để
ngăn chặn. Việc xác định tài sản, thu nhập với một số đối tượng thi hành án gần
như là “bất khả thi” khi họ không thường xuyên có mặt tại địa phương, đi làm ăn
xa…Địa phương là cơ quan duy nhất có thể cung cấp thông tin thì cũng rất khó
khăn để nắm được thông tin về tài sản, thu nhập của người phải thi hành án.
Việc xác minh đối với động sản, đặc biệt là động sản không phải đăng ký quyền
sở hữu, sử dụng là một bài toán thực sự nan giải đối với chấp hành viên và cơ
quan thi hành án dân sự vì nhiều lý do khác nhau mà tài sản rất dễ bị tẩu tán,
tráo đổi, khó xác định giá trị… Các giao dịch mua bán, chuyển nhượng đối
với các tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu trên thực tế không
kiểm soát được.
Trường hợp người phải thi hành án là thành viên góp vốn vào doanh nghiệp: Luật
Thi hành án dân sự đã quy định rõ chấp hành viên có quyền kê biên phần vốn góp
của người phải thi hành án, đồng thời cũng quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin
nơi nhận góp vốn của người phải thi hành án. Tuy nhiên, khi áp dụng quy
định này, chấp hành viên vẫn gặp phải một số khó khăn, vướng mắc trong
việc xác định phần giá trị vốn góp và biện pháp kê biên xử lý phần vốn góp. Một
phần do các loại hình doanh nghiệp này ngay từ khi thành lập đã không có sự
thỏa thuận rõ ràng về cơ cấu tổ chức, quyền và nghĩa vụ của các thành viên, mức
góp vốn và cách thức phân chia lợi nhuận, cơ chế kiểm soát hoạt động sản xuất
kinh doanh. Hai là để xác định phần vốn góp thực tế của các thành viên trong
công ty yêu cầu nhiều tài liệu pháp lý khác nhau mà chấp hành viên khó thu thập
như: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ công ty; giấy chứng nhận góp
vốn, cổ phiếu; sổ đăng ký thành viên, sổ đăng ký cổ đông; báo cáo tài chính
doanh nghiệp, sổ sách kế toán doanh nghiệp; các chứng từ khác về việc góp vốn,
phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp.
Thứ hai, về trách nhiệm xác minh. Luật THADS sửa đổi bổ sung năm 2014
đã sửa đổi quy định về chủ thể thực hiện xác minh điều kiện thi hành án
theo hướng xác minh tài sản là quyền của người được thi hành án, chứ không
phải nghĩa vụ của họ, trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án thuộc về chấp
hành viên. Điều này, mặc dù có những ưu điểm nhất định, khắc phục những bất cập
của Luật THADS năm 2008, nhưng chấp hành viên không thể có động lực xác minh
bằng người được thi hành án, nên hiệu quả của việc xác minh phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như: Sự mẫn cán, nhiệt tình của mỗi chấp hành viên …. Trên thực tế, thời
gian thực hiện công tác xác minh của chấp hành viên trung bình chiếm đến quá
nửa thời gian của một hồ sơ kể từ khi được Thủ trưởng cơ quan THADS giao đến
khi kết thúc hồ sơ, chưa kể đối với hồ sơ cần phải áp dụng các biện pháp bảo
đảm, biện pháp cưỡng chế có huy động lực lượng lớn tham gia thì thời gian và
các nội dung xác minh càng đa dạng và phức tạp hơn. Quy định chấp hành
viên có nhiệm vụ xác minh đặt ra gánh nặng công việc quá tải đối với chấp hành
viên, dẫn đến hiệu quả có thể không cao. Do đó, pháp luật cần có quy định trách
nhiệm tiến hành xác minh bao gồm cả người được thi hành án và chấp hành viên,
trong đó vẫn đề cao việc xác minh của người được thi hành án. Điều này cũng phù
hợp với tính chất của việc thi hành các bản án, quyết định về dân sự. Bởi vì
THADS suy cho cùng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của chính bản thân người
được thi hành án.
Thứ ba, về trình tự thủ tục tiến hành xác minh:
Một là, thời hạn xác minh: Khoản 1 Điều 44 Luật THADS quy định: “Đối với trường
hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chấp hành viên
phải tiến hành xác minh ngay”. Quy định này xuất phát từ tính khẩn cấp
của biện pháp được áp dụng, nên “xác minh ngay” thể hiện sự cấp thiết của vấn
đề và phải được thực hiện trong thời gian gần nhất sau khi chấp hành viên nhận
quyết định thi hành án. Tuy nhiên, trong thực tiễn, thế nào là “xác minh ngay”
vẫn còn có những quan điểm chưa thống nhất, thời điểm xác minh trong trường hợp
này là ngay trong ngày hay có thể sau đó?. Do vậy, Luật THADS và văn bản hướng
dẫn thi hành cần quy định rõ hơn về vấn đề này.
Hai là, về nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập: Điều 7a, Điều 44 Luật THADS
quy định người phải thi hành án có nghĩa vụ kê khai trung thực tài sản, điều
kiện thi hành án; cung cấp đầy đủ tài liệu, giấy tờ có liên quan đến tài sản
của mình khi có yêu cầu của người có thẩm quyền và chịu trách nhiệm trước pháp
luật về nội dung kê khai đó.
Theo Điều 9 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, khi tiến hành xác minh chấp hành viên
yêu cầu người phải thi hành án kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về
tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án. Nội dung kê khai phải nêu rõ loại, số
lượng tiền, tài sản hoặc quyền tài sản; tiền mặt, tiền trong tài khoản, tiền
đang cho vay, mượn; giá trị ước tính và tình trạng của từng loại tài sản; mức
thu nhập định kỳ, không định kỳ, nơi trả thu nhập; địa chỉ, nơi cư trú của
người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng; khả năng và điều
kiện thực hiện nghĩa vụ thi hành án. Chấp hành viên phải nêu rõ trong biên bản
xác minh điều kiện thi hành án về việc đương sự kê khai hoặc không kê khai tài
sản, thu nhập, điều kiện thi hành án. Thực tiễn áp dụng quy định này có
một số điểm còn bất cập như sau:
Về nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập của người phải thi hành án, việc này
chuyển hóa thành nghĩa vụ, thủ tục phải thực hiện của chấp hành viên. Thực tế,
tình trạng bất hợp tác của người phải thi hành án với cơ quan thi hành án diễn
ra thường xuyên. Có những trường hợp người phải thi hành án cố tình trốn tránh,
không tiếp xúc, gặp mặt chấp hành viên thì việc này gần như không thể thực hiện
được.
Về nội dung và mức độ các thông tin tài sản của người phải thi hành án phải
cung cấp cần quy định cụ thể hơn. Người phải thi hành án có nghĩa vụ cung cấp
đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án được hiểu là người
phải thi hành án phải cung cấp đầy đủ thông tin về tất cả các loại tài sản
thuộc quyền sở hữu và quyền sử dụng hợp pháp của mình hay chỉ cung cấp đầy đủ
các thông tin về một phần hoặc một loại tài sản nào đó tương ứng với nghĩa vụ
thi hành án?.
Về việc yêu cầu kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu
nhập, điều kiện thi hành án từ người phải thi hành án đôi khi trở thành một quy
định mang tính hình thức.Trong thực tiễn, người phải thi hành án thường không
có ý thức tự kê khai tài sản, thu nhập hoặc việc kê khai chỉ mang tính hình
thức. Trong khi đó các chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm này còn hạn chế.
Theo quy định tại Điều 52 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn
nhân và gia đình, THADS, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (Nghị định số
110/2013/NĐ-CP) quy định mức xử phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng
đối với hành vi không kê khai trung thực tài sản, điều kiện thi hành án. Mức
phạt như trên còn quá nhẹ, chưa đủ nghiêm khắc để răn đe người phải thi hành án
có hành vi vi phạm. Mặt khác, tại Điều 9 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định
“Trường hợp người phải thi hành án không kê khai hoặc phát hiện việc kê khai
không trung thực thì tùy theo mức độ vi phạm, chấp hành viên có thể xử phạt
hoặc đề nghị người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của
pháp luật”. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 68, Điều 52 Nghị định số
110/2013/NĐ-CP thì mức phạt tiền tối đa mà chấp hành viên được áp dụng là
500.000đ, do đó chấp hành viên không thể trực tiếp xử phạt vi phạm hành chính
với mức phạt tiền nói trên mà phải đề nghị người có thẩm quyền xử phạt. Điều
này cũng dẫn đến việc xử phạt vi phạm hành chính gặp khó khăn. Ngoài việc xử
phạt hành chính với mức thấp nêu trên, pháp luật cũng chưa có chế tài nào khác
đủ sức răn đe đối với việc người phải thi hành án không kê khai; kê khai không
trung thực, hoặc cung cấp không đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập của người
phải thi hành án.
Về chủ thể thực hiện kê khai, người phải thi hành án trong các bản án, quyết
định rất đa dạng, có thể là cá nhân, có thể là cơ quan, tổ chức (doanh nghiệp
tư nhân, doanh nghiệp nhà nước…vv), quy định về trách nhiệm kê khai tài sản,
thu nhập của người phải thi hành án trong các trường hợp mà người phải thi hành
án là cơ quan, tổ chức sẽ được thực hiện như thế nào cũng là vấn đề cần tiếp
tục có những quy định cụ thể hơn để thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật.
Về phối hợp cung cấp thông tin điều kiện thi hành án. Thực tiễn cho thấy, ngay
cả khi chấp hành viên thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án còn gặp
không ít khó khăn. Hệ thống đăng ký tài sản còn chưa đảm bảo tính liên thông,
đồng bộ, hiện đại, dễ tiếp cận. Hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin tại nhiều cơ
quan chưa được số hóa, vẫn còn quản lý trên giấy tờ, sổ sách thông thường, việc
tra cứu thủ công dễ nhầm lẫn hoặc bỏ sót thông tin. Một số cơ quan, tổ chức, cá
nhân nắm thông tin từ chối cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin sơ sài,
không đầy đủ nhưng rất khó xem xét trách nhiệm đối với các trường hợp này. Ví
dụ: Theo điểm b khoản 6 Điều 44 Luật THADS, sau 03 ngày làm việc kể từ khi nhận
được văn bản yêu cầu cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải
thi hành án của chấp hành viên, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất phải có văn
bản trả lời về nội dung này. Tuy nhiên, trên thực tế cơ quan THADS thường chậm
nhận được văn bản trả lời, thậm chí có cả những trường hợp không nhận được văn
bản trả lời. Trong khi đó chưa có chế tài nào áp dụng đối với các trường hợp
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất nói riêng và các cơ quan có liên quan nói
chung chậm trễ trong việc phối hợp với cơ quan THADS, hoặc chất lượng thông tin
cung cấp sơ sài, thiếu chính xác…ảnh hưởng đến quá trình tổ chức thi hành
án. Tại Điều 52 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định mức xử phạt vi
phạm hành chính đối với hành vi không cung cấp thông tin, không giao giấy tờ
liên quan đến tài sản bị xử lý để thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm
quyền thi hành án mà không có lý do chính đáng là từ 1.000.000 đến 3.000.000 đ.
Tuy nhiên, trong thực tiễn để xử phạt hành vi này quả thực không dễ bởi sẽ ảnh
hưởng đến mối quan hệ phối hợp trong công tác THADS. Vì vậy, việc cung cấp
thông tin vẫn chủ yếu phụ thuộc vào nhận thức, mức độ tự nguyện của các chủ thể
nắm giữ thông tin về tài sản của người phải thi hành án .
Do đó, cần quy định rõ ràng hơn về trách nhiệm cung cấp thông tin về điều kiện
thi hành án của các cơ quan hữu quan và các chế tài pháp lý đủ mạnh để áp dụng
đối với các trường hợp vi phạm trách nhiệm này. Ngoài ra, khoản 6 Điều 44
Luật THADS cũng chưa quy định rõ trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp xã tham gia
với tư cách là người đứng đầu chính quyền địa phương khi phối hợp với cơ quan
THADS để xác minh điều kiện thi hành án.
Để bảo đảm việc thi hành án có hiệu quả, nhiều vấn đề đặt ra cần tiếp tục
nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự nói chung và hoàn thiện
các quy định về thông tin tài sản của người phải thi hành án nói riêng như mức
độ thông tin tài sản thi hành án phải cung cấp; làm thế nào để nâng cao ý thức
tự giác của người phải thi hành án trong việc cung cấp thông tin về tài sản thi
hành án khi thực hiện các giao dịch dân sự, kinh tế khi họ đang trong quá trình
phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án; việc cung cấp thông tin tài sản thi hành
án chỉ là nghĩa vụ bắt buộc đối với người phải thi hành án hay là nghĩa vụ bắt
buộc đối với đồng thời cả người phải thi hành án và người phải thi hành án?
khoảng thời gian mà người phải thi hành án phải cung cấp các thông tin về tài
sản của mình (thời điểm bắt đầu và kết thúc trách nhiệm cung cấp thông tin về
tài sản của người phải thi hành án); thông tin về các giao dịch dân sự, kinh tế
giữa người phải thi hành án với những chủ thể có mối quan hệ than quen khác đã
được thực hiện trước thời điểm người phải thi hành án cung cấp thông tin về tài
sản của mình cho cơ quan thi hành án; ngoài chế tài xử phạt vi phạm hành chính
thì các chế tài khác như trách nhiệm bồi thường dân sự hoặc chế tài hình sự có
được đặt ra không nếu người phải thi hành án không trung thực trong việc kê
khai thông tin về tài sản của mình? v.v.
Từ những khó khăn trong thực tiễn thực hiện xác minh điều kiện thi hành án nêu
trên, thiết nghĩ các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu thực hiện một số giải
pháp nhằm tháo gỡ khó khan, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác mình điều kiện
thi hành án sau:
Thứ nhất: Các văn bản quy định xác minh điều kiện thi hành án còn tập
trung nhiều ở việc quy định trình tự, thủ tục mà chưa có nhiều quy định cụ thể
về nội dung xác minh, do đó pháp luật THADS cần có những quy định cụ thể hơn về
nội dung xác minh thi hành án.
Thứ hai: Đối với quy định yêu cầu người phải thi hành kê khai tài
sản, thu nhập, nên quy định bắt buộc ở một số trường hợp nhất định, còn lại là
khuyến khích đối với chấp hành viên. Pháp luật các nước đều quy định chế
tài nghiêm khắc đối với các trường hợp không cung cấp thông tin. Thậm chí, pháp
luật trao cho tòa án quyền ban hành lệnh bắt và giam giữ người phải thi hành án
đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin về tài sản của người phải thi hành án.
Chế tài này buộc người phải thi hành án hoặc người thứ ba phải có trách nhiệm
hơn trong việc cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án
khác. Đây là điểm mà Việt Nam nên cân nhắc tham khảo nhằm nâng cao trách nhiệm
của người phải thi hành án và các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp
thông tin về tài sản của người phải thi hành án, tạo điều kiện thuận lợi cho
quá trình tổ chức THADS.
Ngoài ra, có thể xem xét tham khảo kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức trong
việc quy định về kê khai tài sản thu nhập như : Về mức độ thông
tin về tài sản mà người phải thi hành án phải cung cấp đối với các yêu cầu
thi hành án về tiền, pháp luật thi hành án dân sự Cộng hòa Liên bang Đức quy
định người phải thi hành án phải cung cấp thông tin về tất cả các loại tài sản
thuộc về người phải thi hành án. Đồng thời, trong danh sách tài sản được kê
khai, người phải thi hành án phải cung cấp đầy đủ các lý do cũng như những bằng
chứng đối với những thông tin về tài sản được cung cấp. Về chế tài áp dụng
trong trường hợp người phải thi hành án cố tình không thực hiện việc kê khai
thông tin tài sản, thu nhập, nếu người phải thi hành án không gặp chấp hành
viên theo lịch hẹn để cung cấp thông tin về tài sản và tình hình tài chính của
mình mà không có lý do chính đáng hoặc từ chối cung cấp thông tin về tài sản và
tình hình tài chính của mình, theo Điều 802c Bộ luật Tố tụng Dân sự Đức mà
không đưa ra được bất kỳ một lý do phù hợp nào thì họ sẽ bị bắt giữ để buộc
người phải thi hành án phải cung cấp các thông tin theo yêu cầu. Người phải thi
hành án có thể sẽ bị bắt giam giữ trên cơ sở lệnh bắt giữ được phát hành bởi
tòa án theo yêu cầu của người được thi hành án (biện pháp cưỡng chế giam
giữ)cho đến khi họ cung cấp được đầy đủ thông tin về tài sản và tình trạng tài
chính của mình, thời hạn tối đa của việc giam giữ này là 06 tháng. Lệnh bắt giữ
không cần thiết phải được chuyển cho người phải thi hành án trước khi thực hiện
việc bắt giữ. Một bản photocopy đã được xác nhận của Lệnh bắt giữ sẽ được
chuyển giao trực tiếp cho người phải thi hành án tại thời điểm bắt giữ. Người
có thẩm quyền bắt giữ người phải thi hành án trong trường hợp này là chấp hành
viên thi hành án
Thứ ba: Để nâng cao trách nhiệm của các cơ quan hữu quan trong việc
cung cấp thông tin của người phải thi hành án và phối hợp tốt trong hoạt động
thi hành án dân sự, pháp luật cần quy định rõ mức chi phí đảm bảo cho
hoạt động phối hợp thi hành án, cho việc thuê chuyên gia. Đồng thời, quy định
cụ thể chế tài xử lý đủ mạnh đối với những trường hợp chưa phối hợp, phối hợp
chưa tốt với cơ quan thi hành án dân sự và gây thiệt hại cho các bên đương sự.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các Văn phòng Thừa phát lại và cơ quan
thi hành án dân sự trong tổ chức thi hành án dân sự, nhất là trong xác minh
điều kiện thi hành án, nhằm giảm tải gánh nặng cho chấp hành viên trong xác
minh điều kiện thi hành án.
Thứ tư: Quy định thống nhất, đồng bộ cơ chế kiểm soát nguồn thu
nhập, tài sản của người phải thi hành án thông qua việc đăng ký, kê khai tài
sản nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác minh tài sản. Pháp luật về
tài chính, ngân hàng, dân sự cần có quy định mở rộng phạm vi các giao dịch phải
thông qua tài khoản, hạn chế sử dụng tiền mặt trong nhân dân.
Thứ năm: Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan tố tụng và tư
pháp đối với việc xác minh tài sản thi hành án. Từ giai đoạn điều tra, truy tố,
xét xử đến giai đoạn thi hành án rất cần một sự xâu chuỗi và liên kết chặt chẽ
về thông tin tài sản của người phải thi hành án. Trong quá trình chấp hành viên
xác minh điều kiện thi hành án, gặp phải những khó khăn trong xác minh, xuất
hiện sự chống đối, nhằm trốn tránh việc kê khai tài sản, trốn tránh trách nhiệm
thi hành án dẫn đến chấp hành viên có thể không thực hiện được đầy đủ
quyền và đúng trình tự theo quy định pháp luật thì nhiệm vụ của Viện Kiểm
sát viên, của Tòa án như thế nào, vai trò của các cơ quan tố tụng được quy định
như thế nào?. Đây cũng là những vấn đề cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện trong
Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành. Bởi lẽ bản án được thi
hành nhanh, hiệu quả là sản phẩm, công sức và là kết quả chung của cả một quá
trình tố tụng, chứ không riêng của chấp hành viên, những lúc khó khăn, nguy
hiểm trên thực tế mà chấp hành viên phải đương đầu, sự chống đối quyết
liệt của người phải thi hành án nhằm thách thức chấp hành viên, tức là thách
thức Thẩm phán đã ban hành bản án, thách thức pháp luật, thách thức công
lý nên rất cần có sự vào cuộc quyết liệt, mạnh mẽ, thể hiện chức năng, vai trò
duy trì và bảo vệ và công lý của các cơ quan tố tụng (Tòa án, Viện Kiểm sát,
Công an) và chính quyền nhân dân.
Thứ sáu: Quy định đồng bộ việc kê khai, đăng ký tài sản, xây dựng hệ thống
cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký tài sản để sử dụng cho việc tra cứu, cung cấp
thông tin tài sản.Tiến tới xây dựng một cơ sở dữ liệu thống nhất, toàn diện,
kết nối thông tin của các cơ quan đăng ký tài sản khác nhau để chấp hành viên
có thể truy cập để thu thập thông tin, như vậy sẽ góp phần lớn trong việc giảm
thời gian, chi phí xác minh điều kiện THADS và mang lại hiệu quả cao hơn.
Đồng
tác giả: Ths. Hoàng Thị Thanh Hoa & Quang Minh
Bài viết đăng trên Cổng Thông tin điện tử Tổng cục Thi hành án dân sự ngày 18/11/2018
1. Từ điển Tiếng Việt - Trung tâm từ điển học, NXB Đà Nẵng, Hà Nội, năm 2015, Tr. 1440.
2. Xem thêm: Hoàng Thị Thanh Hoa, Cần cơ chế pháp lý hứu hiệu ngăn chặn tẩu tán tài sản, http://baophapluat.vn/tu-phap/can-co-che-phap-ly-huu-hieu-ngan-chan-tau-tan-tai-san-thi-hanh-an-375960.html, ngày đăng: 15/1/2018, trc: 22/10/2018
3. Điều 92 Luật Thi hành án dân sự
4. Hoàng Thu Trang, Hoàn thiện quy định pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án dân sự;http://thads.moj.gov.vn/nghean/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx?itemid=13, ngày đăng: 21/3/2016, trc: 23/10/2018
5. Khoản 4 Điều 20 Luật THADS
6. Học viện Tư pháp, Giáo trình Nghiệp vụ thi hành án dân sự (Phần Kỹ năng), Tập 1, NXB. Tư pháp, 2017, tr 91.
7. Th.Đinh Duy Bằng, Một số vấn đề về quyền hạn của Chấp hành viên,
3. Điều 92 Luật Thi hành án dân sự
4. Hoàng Thu Trang, Hoàn thiện quy định pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án dân sự;http://thads.moj.gov.vn/nghean/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx?itemid=13, ngày đăng: 21/3/2016, trc: 23/10/2018
5. Khoản 4 Điều 20 Luật THADS
6. Học viện Tư pháp, Giáo trình Nghiệp vụ thi hành án dân sự (Phần Kỹ năng), Tập 1, NXB. Tư pháp, 2017, tr 91.
7. Th.Đinh Duy Bằng, Một số vấn đề về quyền hạn của Chấp hành viên, http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=341; trc: 5/11/2018
8. Hoàng Thu Trang, Hoàn thiện quy định pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án dân sự;http://thads.moj.gov.vn/nghean/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx?itemid=13, ngày đăng: 21/3/2016, trc: 23/10/2018
9. Xem thêm: Nguyễn Bích Thảo, Nguyễn Thị Hương Giang, Hoàn thiện cơ chế xác minh điều kiện thi hành án dân sự ở Việt Nam từ kinh nghiệm quốc tế, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội tập 34 số 1/2018 tr 9
10. Xem thêm: Ths.Nguyễn Văn Nghĩa; Thông tin về tài sản của người thi hành án nhìn từ kinh nghiệm của Cộng hòa liên bang Đức;http://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/lists/thongtinchung/view_detail.aspx?itemid=1134; Ngày đăng: 27/6/2017; trc: 24/10/2018
11. Khoản 2 Điều 802c Bộ luật Tố tụng dân sự Đức.
12. Điều 802g Bộ luật Tố tụng Dân sự Đức
13. Khoản 1 Điều 802j Bộ luật Tố tụng Dân sự Đức.
14. Khoản 1 Điều 802g Bộ luật Tố tụng Dân sự Đức.
15. Câu 2 Khoản 2 Điều 802g Bộ luật Tố tụng Dân sự Đức.
16. Câu 1 khoản 2 Điều 802g Bộ luật Tố tụng Dân sự Đức: “Die Verhaftung des Schuldners erfolgt durch einen Gerichtsvollzieher”.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét