28/12/2018
(PLO) - Điều 52 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 (Luật THADS) đã quy định rõ về các trường hợp kết thúc việc thi hành án. Tuy
nhiên, trên thực tế việc hiểu, áp dụng các quy định này đặt trong mối quan hệ với các luật liên quan còn thiếu thống nhất.
Theo đó, việc thi hành
án đương nhiên kết thúc trong trường hợp sau: Có xác nhận của cơ quan thi hành
án dân sự về việc đương sự đã thực hiện xong quyền, nghĩa vụ của mình; Có quyết
định đình chỉ thi hành án.
Khoản 1 Điều 52 Luật
THADS quy định “việc thi hành án đương nhiên kết thúc khi có xác nhận của cơ
quan THADS”. Quy định này chưa thực sự hợp lý vì theo Điều 53 Luật THADS, thì
việc xác nhận kết quả thi hành án được thực hiện theo yêu cầu của đương sự.
Trong thực tiễn không
phải trường hợp nào đương sự cũng có yêu cầu xác nhận kết quả thi hành án. Việc
xác nhận kết quả thi hành án, về cơ bản thường chỉ liên quan đến việc đương sự
có nhu cầu xin xác nhận chứ không áp dụng cho tất cả các trường hợp thi hành
án, do đó cần sửa đổi quy định trên theo hướng: Việc thi hành án đương nhiên
kết thúc khi đương sự đã thực hiện xong quyền và nghĩa vụ của mình.
Đối với căn cứ đình
chỉ thi hành án, Điều 50 Luật THADS đã quy định rất cụ thể về các căn cứ để ra
quyết định đình chỉ thi hành án.
Cụ thể đó là các
trường hợp: Người phải thi hành án chết không để lại di sản hoặc theo quy định
của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển
giao cho người thừa kế; Người được thi hành án chết mà theo quy định của pháp
luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển
giao cho người thừa kế hoặc không có người thừa kế; Đương sự có thỏa thuận bằng
văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan THADS đình chỉ
thi hành một phần hoặc toàn bộ quyền, lợi ích được hưởng theo bản án, quyết
định, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp
pháp của người thứ ba; Bản án, quyết định bị hủy một phần hoặc toàn bộ, trừ
trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 103 của Luật THADS; Người phải thi hành án
là tổ chức đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy định của pháp luật
nghĩa vụ của họ không được chuyển giao cho tổ chức khác; Có quyết định miễn
nghĩa vụ thi hành án; Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với người
phải thi hành án; Người chưa thành niên được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết
định đã chết hoặc đã thành niên.
Trong trường hợp Thủ
trưởng Cơ quan thi hành án ra quyết định đình chỉ thi hành án thì quyết định đó
sẽ làm chấm dứt hoàn toàn quyền của người được thi hành án và nghĩa vụ của
người phải thi hành án, việc thi hành án đương nhiên kết thúc.
Quy định về việc kết
thúc thi hành án của Luật THADS cũng phù hợp với quy định về chấm dứt nghĩa vụ
được quy định tại Điều 372 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS năm 2015) về căn cứ
chấm dứt nghĩa vụ.
Tuy nhiên, ngoài các
nội dung thống nhất giữa Luật THADS và BLDS năm 2015 về vấn đề chấm dứt nghĩa
vụ thì Điều 372 BLDS năm 2015 còn quy định các căn cứ chấm dứt nghĩa vụ gồm“Bên
có quyền và bên có nghĩa vụ hoà nhập làm một”;“Vật đặc định là đối tượng của
nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ khác”.
Đối với trường
hợp“Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn” thì Luật THADS quy định
là một trong những căn cứ xác định việc chưa có điều kiện thi hành án (theo
điểm b Điều 44a Luật THADS).
Đây là một vấn đề còn
vướng mắc trong thực tiễn, có ý kiến cho rằng: tại thời điểm thi hành án, vật
đặc định là đối tượng của nghĩa vụ đã không còn tồn tại hoặc đã bị hư hỏng đến
mức không thể sử dụng được; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ không thể thu hồi và
cũng không thể cấp lại được mà đương sự không có thỏa thuận khác thì đã xác
định được khả năng để thi hành nghĩa vụ đó trên thực tế không còn, nếu đưa vụ
việc vào diện chưa có điều kiện thi hành án sẽ làm tăng lượng án tồn đọng,
không phù hợp với thực tế.
Do đó, đa số quan điểm
đề xuất xem xét bỏ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 44a về xác định việc chưa
có điều kiện thi hành án và bổ sung nội dung quy định này tại khoản 1 Điều 50
Luật THADS thành căn cứ đình chỉ thi hành án để phù hợp với quy định của BLDS
năm 2015, đồng thời góp phần giải quyết dứt điểm một số hồ sơ thi hành án còn
tồn đọng.
Ths. Hoàng Thị Thanh Hoa
Bài viết đăng trên báo Pháp Luật Việt Nam ngày 28/12/2018

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét