(PLO) -Biện pháp thu tiền từ hoạt động
kinh doanh (HĐKD) của người phải thi hành án được áp dụng khi người phải thi
hành án có nghĩa vụ trả tiền (nghĩa vụ trả tiền của người phải thi hành án là
nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định của Tòa án hoặc phát sinh trong
quá trình tổ chức thi hành án) và người phải thi hành án có có thu nhập từ
HĐKD. Đây là một quy định rất tiến bộ và phù hợp với sự phát triển của xã hội,
đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Áp dụng
thành công biện pháp này sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian, công sức của
Chấp hành viên và nâng cao hiệu quả THADS. Tuy nhiên, trên thực tế rất ít cơ
quan THADS và chấp hành viên lựa chọn áp dụng biện pháp này. Một trong những
nguyên nhân chủ yếu là do các quy định pháp luật còn bất cập dẫn đến việc áp
dụng biện pháp cưỡng chế thu tiền từ HĐKD của người phải thi hành án còn gặp
nhiều khó khăn.
Điều 79
Luật THADS quy định trường hợp người phải thi hành án có thu nhập từ HĐKD thì
Chấp hành viên ra quyết định thu tiền từ HĐKD của người đó để thi hành án.
Người phải thi hành án ở đây có thể là cá nhân hoặc tổ chức có HĐKD. Tuy nhiên,
việc xác định thu nhập của người phải thi hành án từ hoạt động kinh doanh là
rất khó khăn. Điều này xuất phát từ việc nền kinh tế nước ta vẫn chủ yếu tiêu
dùng bằng tiền mặt, không dễ quản lý thu nhập từ HĐKD của người phải thi hành
án. Mặt khác, việc xác định thu nhập từ HĐKD lại bị chi phối bởi nhiều yếu tố
khác như: ngành nghề kinh doanh, yếu tố thị trường, giá cả biến động …
Để xác
định mức thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án Chấp hành
viên phải kiểm tra các loại sổ sách, báo cáo tài chính của doanh nghiệp, việc
này đòi hỏi chấp hành viên phải có kiến thức chuyên môn về tài chính doanh
nghiệp, đây cũng là một trở ngại lớn. Hơn nữa, trong thực tiễn, rất khó để
người phải thi hành án cung cấp các loại giấy tờ, sổ sách, chứng từ mua bán cho
cơ quan THADS. Pháp luật THADS cũng chưa quy định chế tài pháp lý để xử lý đối
với các trường hợp người phải thi hành án không cung cấp, cung cấp không đầy đủ
hoặc không chính xác các loại sổ sách, giấy tờ liên quan đến hoạt động sản xuất
kinh doanh cho cơ quan THADS.
Điều 22
Nghị định số 62/2015/NĐ-CP của Chính phủ chỉ hướng dẫn “Khi xác định mức tiền
thu từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án, Chấp hành viên căn cứ
vào kết quả kinh doanh trên cơ sở sổ sách, giấy tờ và tình hình kinh doanh thực
tế của người phải thi hành án” mà chưa hướng dẫn cụ thể là khoản thu từ HĐKD
này là khoản thu sau thuế hay khoản thu từ lợi nhận ròng của cá nhân, tổ chức
kinh doanh. Hơn nữa, nếu là HĐKD của doanh nghiệp thì khoản thu sau thuế sẽ
được phân bổ cho nhiều loại quỹ, ví dụ: quỹ đầu tư và phát triển, quỹ dự phòng
tài chính, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi,… Như vậy, nếu họ là người phải thi
hành án thì có cho phép họ phân bổ khoản thu cho các loại quỹ đó hay không?
Khi ra
quyết định thu tiền, chấp hành viên phải để lại số tiền tối thiểu cho HĐKD và
sinh hoạt của người phải thi hành án và gia đình. Về “Mức tiền tối thiểu để lại
cho hoạt động sản xuất kinh doanh” của người phải thi hành án (Điều 79 Luật
THADS và khoản 2 Điều 22 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP) có thể được hiểu là với
mức tiền này thì doanh nghiệp có thể tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh
bình thường, không dẫn đến tình trạng giải thể, phá sản. Đây là một công
việc đòi hỏi rất cao về chuyên môn. Hơn nữa, pháp luật hiện nay vẫn chưa có quy
định cụ thể về mức tối thiểu cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Do vậy, mức
tiền tối thiểu để lại cho hoạt động sản xuất kinh doanh là không có cơ sở xác
định.
Trường
hợp người phải THA không chấp hành quyết định thu tiền từ HĐKD của chấp hành
viên, theo khoản 6 Điều 52 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia
đình, THADS, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thì mức xử phạt đối với hành vi
không chấp hành quyết định của người có thẩm quyền THA về việc thu tiền từ HĐKD
của người phải thi hành án là 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Tuy nhiên,
mức phạt tiền này vẫn là quá thấp, chưa đủ sức răn đe.
Từ những
khó khăn trên có thể thấy việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thu tiền từ HĐKD của
người phải thi hành án hiện nay chỉ mới có thể áp dụng đối với người phải thi
hành án có các hoạt động kinh doanh đơn giản như cho thuê tài sản và các HĐKD
mang tính ổn định với dòng lưu chuyển tiền tệ rõ ràng như kinh doanh nhà hàng
khách sạn…
Còn đối
với các HĐKD phức tạp như thương mại, dịch vụ,… thì việc áp dụng biện pháp khấu
trừ này còn rất hạn chế. Do vậy, cần phải tiếp tục nghiên cứu và có những quy
định hướng dẫn cụ thể hơn đối với biện pháp cưỡng chế thu tiền từ HĐKD của
người phải thi hành án để biện pháp này phát huy hiệu quả trong thực tiễn./.
Hoàng Thanh
Hoa – Hồ Quân Chính
Bài đăng trên Báo Pháp luật Việt Nam ngày 24/9/2018

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét