Chấp hành nghĩa vụ dân sự có ý nghĩa quan trọng
Vấn đề đặc xá được quy định cụ thể tại Luật Đặc xá năm 2018; Điều 66 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Theo đó, đối với điều kiện đặc xá thì tất cả các trường hợp người đang chấp hành án phạt tù đều phải chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, đã nộp án phí. Về nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác, đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm tham nhũng hoặc tội phạm khác (do Chủ tịch nước quyết định trong mỗi lần đặc xá) thì phải thi hành xong. Đối với người bị kết án phạt tù về các tội khác đã thi hành xong hoặc thi hành được một phần nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác nhưng lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp chưa có điều kiện thi hành tiếp phần còn lại theo quy định của pháp luật về THADS, nếu đáp ứng các điều kiện khác thì vẫn được đề nghị đặc xá.
Đối với tiêu chí tha tù trước thời hạn có điều kiện thì người đang chấp hành án phạt tù phải chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí và các nghĩa vụ bồi thường dân sự.
Cả trường hợp đặc xá và tha tù trước thời hạn có điều kiện thì người đang chấp
hành án phải có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Tiêu chí để được xếp loại tốt hoặc khá thì người đang chấp hành án phải “Tích cực khắc phục xong hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra” theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 133/2020/NĐ-CP.
Có thể thấy, việc chấp hành nghĩa vụ dân sự trong các bản án hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc xét đặc xá và tha thù trước thời hạn của phạm nhân. Tuy nhiên, trong thực tiễn, hiệu quả THADS trong các trường hợp người phải thi hành án là phạm nhân vẫn còn nhiều hạn chế.
Cần cơ chế hữu hiệu hơn trong công tác phối hợp
Điều 128 Luật THADS và Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA- BTC đã có quy định về việc phối hợp giữa cơ quan THADS và Trại giam trong thu, nộp, quản lý tiền, giấy tờ của người phải THADS và trả tiền, giấy tờ cho người được THADS là phạm nhân. Tuy nhiên trong thực tế, tình trạng cơ quan THADS không xác định được địa chỉ trại giam nơi đương sự chấp hành hình phạt tù là khá phổ biến. Mặc dù Điều 3 Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC đã quy
định: “Giám thị trại giam, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án hình sự, Công an cấp huyện có trách nhiệm thông báo cho cơ quan THADS nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm họ, tên, địa chỉ của phạm nhân là người phải THADS hoặc phạm nhân là người được thi hành án theo bản án hình sự, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tiếp nhận phạm nhân vào trại giam”. Tuy nhiên, việc thực hiện quy định trên ở nhiều nơi vẫn còn chưa nghiêm túc. Khi chấp hành viên tổ chức thi hành án, thông tin duy nhất về người phải thi hành án là phạm nhân mà chấp hành viên có thể nắm được chỉ có ở bản án, ngoài ra chấp hành viên phải tự tìm hiểu và xác định trại giam nơi người được thi hành án chấp hành hình phạt tù. Hành trình xác định trại giam đôi khi rất gian nan và mất nhiều thời gian của chấp hành viên, làm giảm hiệu quả thi hành án.
Đối với các khoản tiền trại giam đã thu của đương sự, do công tác thông tin giữa trại giam và cơ quan THADS còn hạn chế, dẫn đến việc xử lý các khoản tiền này gặp nhiều khó khăn, có trường hợp thân nhân của người phải thi hành án đã nộp tiền tại cơ quan THADS, tuy nhiên phạm nhân vẫn nộp tại trại giam, dẫn đến phát sinh thêm nhiều thủ tục… Do đó, cần có những
quy định và cơ chế hữu hiệu hơn nữa trong công tác phối hợp giữa Trại giam và cơ quan THADS, đặc biệt là trong hoạt động thông tin, theo dõi người phải thi hành án là phạm nhân.
Trong thực tiễn, có nhiều trường hợp, người đang chấp hành án phạt tù đến khi đủ điều kiện về thời gian chấp hành án phạt tù mới nộp tiền thi hành án nhưng không được đề nghị đặc xá hoặc tha tù trước thời hạn do không đáp ứng được đủ số kỳ xếp loại khá, tốt (vì trước đó chưa nộp các khoản tiền THADS). Do đó, trong quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan THADS cần hiểu rõ các quy định liên quan đến đặc xá, miễn giảm hình phạt tù và tha tù trước thời hạn có điều kiện để vận động người phải thi hành án tự nguyện thi hành án.
Cơ quan THADS cần phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc tuyên truyền, vận động người phải thi hành án hoặc thân nhân của người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam, trại tạm giam nâng cao nhận thức và nghĩa vụ tích cực thi hành phần trách nhiệm dân sự trong bản án hình sự. Đồng thời, Luật Thi hành án hình sự cũng cần có các quy định cụ thể hơn về trách nhiệm của Trại giam trong việc phối hợp với cơ quan THADS trong tổ chức thi hành phần dân sự trong các bản án, quyết định hình sự; phối hợp với cơ quan THADS trong việc thông báo, đôn đốc, hướng dẫn người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam, trại tạm giam hoặc thân nhân của họ nộp tiền, tài sản tại các cơ quan THADS địa phương hoặc trại giam, trại tạm giam.
Bên cạnh việc xây dựng các quy chế phối hợp giữa cơ quan THADS và trại giam, có thể xây dựng phần mềm liên thông giữa các cơ quan này trong việc theo dõi người phải thi hành án là phạm nhân để nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các cơ quan này trong việc thu tiền, tài sản của người phải thi hành án là phạm nhân và trả tiền, tài sản cho người được thi hành án là phạm nhân.
Hoàng Thanh Hoa
Bài đăng trên báo Pháp Luật Việt Nam số 206 ngày 25/7/2022

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét