13/03/2018 Ths. Đinh Duy Bằng và Ths. Hoàng Thanh Hoa
Xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC) trong thi hành án dân sự (THADS) là một trong những công tác quan trọng, nhằm đấu tranh, phòng ngừa và xử lý các hành vi vi phạm của các cá nhân, tổ chức trong quá trình THADS. Hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề XPVPHC trong lĩnh vực THADS hiện hành bao gồm:Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định số 110/2013/NĐ-CP, ngày 24/9/2013 của Chính phủ Quy định XPVPHC trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã( đã được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP, ngày 14/8/2015 của Chính phủ) (sau đây gọi tắt Nghị định số 110/2013/NĐ-CP).
Nhìn chung, những quy
định về XPVPHC trong lĩnh vực THADS là khá đầy đủ, chi tiết. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, kết quả XLVPHC trong THADS còn
rất khiêm tốn, chưa phản ánh được hết thực trạng vi phạm hành chính
trong THADS hiện nay. Các qui định về XPVPHC trong hoạt động THADS thời
gian qua vẫn chưa phát huy hiệu quả, việc phòng ngừa, xử lý vi phạm vẫn còn
nhiều hạn chế, nhiều hành vi vi phạm trong THADS diễn ra phổ biến nhưng
chưa được xử lý kịp thời. Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành
chính của cơ quan THADS còn “ngại” việc xử phạt vi phạm hành chính, chưa
nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc xử phạt. Thống kê cho thấy một
số địa phương trong nhiều năm không thực hiện việc XPVPHC[1].
Bên cạnh đó, một số quy phạm pháp luật XPVPHC trong lĩnh vực THADS còn có những
hạn chế nhất định.
Thứ nhất, hạn chế từ phía người có thẩm
quyền xử phạt:
Chấp
hành viên và các cơ quan THADS không thực hiện việc XPVPHC hoặc né tránh XPVPHC
do ngại phải tổ chức thi hành quyết định XPVPHC. Nhiều hành vi vi phạm xảy
ra thường xuyên nhưng rất ít khi bị xử lý hành chính, điển hình như những
hành vi: đã nhận giấy báo, giấy triệu tập lần thứ hai nhưng không đến địa điểm
mà không có lý do chính đáng, không cung cấp thông tin, không thực hiện
quyết định khấu trừ thu nhập của người có thẩm quyền…Việc “ngại”
XPVPHC của Cơ quan THADS, Chấp hành viên có nhiều lý do, gồm:
- Về thủ tục và trình tự XPVPHC có khá nhiều thủ
tục, từ việc lập biên bản VPHC, mời người làm chứng, chứng kiến, ra quyết định
xử phạt, thông báo quyết định xử phạt, thu tiền, nộp NSNN,…trong khi mức phạt
là không đáng kể và không dẫn tới một trách nhiệm nào nghiêm khắc hơn đối với
người bị xử phạt.
-Về tính hiệu quả của quyết định XPVPHC thì
việc xử phạt thật sự không có tính khả thi, số tiền phải thi hành tăng dẫn
đến người phải thi hành án sẽ tiếp tục chống đối, cản trở việc thi hành án,
không thực hiện quyết định XPVPHC, trong khi việc tổ chức cưỡng chế để thi
hành quyết định XPVPHC lại không hề dễ dàng.
Thứ hai,
hạn chế trong quy định về xử phạt vi phạm hành chính.
Một là, về thẩm quyền xử phạt
vi phạm hành chính.
Theo Điều 49 Luật
xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật XLVPHC), Điều 68 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP
thì mức xử phạt tối đa mà Chấp hành viên có quyền áp
dụng là 500.000 đồng, đối với Chi cục trưởng là 2.500.000 đồng; đối với
Cục trưởng Cục THADS, Trưởng phòng Phòng Thi hành án cấp quân khu là 20.000.000
đồng. Vấn đề đặt ra là thẩm quyền xử
phạt của Chấp hành viên và Chi cục trưởng Chi cục THADS có mức phạt tiền quá
thấp dẫn đến rất khó khăn trong việc áp dụng. Theo đúng quy định thì chấp hành
viên chỉ có thể xử phạt duy nhất đối với một hành vi là đã nhận giấy báo, giấy
triệu tập lần thứ hai của người có thẩm quyền thi hành án nhưng không đến địa
điểm ghi trong giấy báo, giấy triệu tập mà không có lý do chính đáng. Trong khi đó có rất nhiều các hành vi
vi phạm mà cơ quan THADS cấp huyện thường xuyên gặp phải nhưng theo quy định
thì lại không thuộc thẩm quyền xử phạt, ví dụ như các hành vi: Không thực hiện
công việc phải làm, không chấm dứt thực hiện công việc không được làm theo bản
án, quyết định; trì hoãn thực hiện nghĩa vụ thi hành án…Các hành vi nói trên
đều thuộc khung hình phạt trên 3.000.000đ, do đó không thuộc thẩm quyền xử phạt
của các cơ quan thi hành án cấp huyện. Cơ quan THADS cấp huyện phải lập hồ sơ
đề nghị các cơ quan có thẩm quyền ra các quyết định XPVPHC. Việc làm này mất rất nhiều thời
gian của các cơ quan THADS, trong khi thực tế, các hành vi VPHC
diễn ra ngày càng nhiều và phức tạp.
Việc chưa phân định rõ thẩm quyền xử lý đối với một số
hành vi vi phạm cũng làm hạn chế việc XPVPHC của cơ quan THADS. Đối với một
số hành vi như: Không
cung cấp thông tin, không giao giấy tờ liên quan đến tài sản bị xử lý để thi
hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền; không thông báo cho cơ quan thi hành án
khi có thay đổi về địa chỉ và nơi cư trú; không kê khai trung thực tài sản, điều kiện thi hành
án…Các hành vi trên
thuộc thẩm quyền xử phạt của cả cơ quan THADS cấp huyện và cấp tỉnh, việc định
lượng mức độ vi phạm của hành vi, quyết định mức xử phạt và phân định thẩm
quyền xử phạt trên thực tế vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Hai là, về xác định thẩm quyền lập biên bản làm căn cứ ra quyết định XPVPHC.
Theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều
65 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định: “Thẩm
tra viên, thư ký, chuyên viên cơ quan Thi hành án dân sự lập biên bản vi phạm
hành chính đối với các hành vi quy định tại Chương V của Nghị định này”.
Theo như quy định nêu trên, thì chỉ có hoặc là thẩm tra viên, hoặc là Thư ký,
hoặc là Chuyên viên mới có quyền lập biên bản, còn Chấp hành viên thực hiện
chức trách nhiệm vụ lại không được giao quyền lập biên bản nhưng lại được quyền
quyết định xử phạt.
Xét về thẩm quyền lập biên bản, Chấp
hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định[2] và
cũng là người có thẩm quyền xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 500.000 đồng,
nhưng lại không được giao quyền lập biên bản vi phạm hành chính. Bên cạnh đó,
không phải lúc nào Chấp hành viên thực thi nhiệm vụ cũng có Thư ký thi hành án
đi cùng hoặc Chấp hành viên không có thư ký giúp việc. Trong khi đó, căn cứ xử
phạt vi phạm hành chính phải là biên bản vi phạm hành chính. Vậy trong trường
hợp Chấp hành viên không có thư ký thi hành án và có thư ký thi hành án nhưng
không đi cùng thực hiện nhiệm vụ thì ai sẽ là người lập biên bản vi phạm hành
chính?
Xét về hình thức biên bản: Biên bản
vi phạm hành chính trong trường hợp Thư ký thi hành án lập thì Thư ký chỉ ký
tên, không có thẩm quyền đóng dấu. Vậy trong trường hợp này Chấp hành viên hay
người có thẩm quyền ký tên đóng dấu như Chi cục trưởng, phó Chi chi cục trưởng,
Thẩm tra viên ký xác nhận hay không? Về nguyên tắc người ký xác nhận biên bản
do Thư ký thi hành án lập phải là người biết rõ có hành vi vi phạm hành chính.
Vì vậy, nếu không biết rõ về hành vi vi phạm hành chính thì không thể dễ dàng
ký xác nhận làm căn cứ XPVPHC.
Xét về nội dung biên bản: Thư ký chỉ
là người giúp Chấp hành viên lập biên bản và thực hiện một số công việc nhất
định khác. Việc xác đinh hành vi vi phạm, lỗi,… của người vi phạm hành chính
phải thuộc về Chấp hành viên xác định. Vì vậy, không quy định thẩm quyền lập
biên bản vi phạm hành chính đối với Chấp hành viên là một “khoảng trống” pháp
lý đối với việc XPVPHC trong lĩnh vực THADS.
Quy định nêu trên gây không ít bối
rối, khó khăn cho Chấp hành viên khi thực thi nhiệm vụ được giao.
Ba là, mâu thuẫn trong quy định về xác định thẩm quyền xử
phạt.
Theo quy định
tại Luật THADS, cụ thể là khoản 1 Điều 118 Luật thi hành án dân sự quy định: “…Trường hợp thi hành nghĩa vụ phải thực
hiện công việc nhất định theo bản án, quyết định mà người phải thi hành án
không thực hiện thì Chấp hành viên quyết định phạt tiền và ấn định thời hạn 05
ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó thực hiện nghĩa
vụ thi hành án…”.
Điều 119 Luật THADS cũng quy định: “Người phải thi hành án không tự nguyện chấm
dứt việc thực hiện công việc mà theo bản án, quyết định không được thực hiện
thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối với người đó, trong trường hợp
cần thiết có thể yêu cầu họ khôi phục hiện trạng ban đầu. Trường hợp người đó
vẫn không chấm dứt công việc không được làm, không khôi phục lại hiện trạng ban
đầu thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình
sự về tội không chấp hành án”.
Như vậy, xét về mặt thẩm quyền xử phạt
theo khoản 1 Điều 118 và Điều 119 của Luật THADS thì Chấp hành viên được giao
quyền quyết định phạt tiền, ra quyết định phạt tiền. Tuy nhiên, theo quy định
tại khoản 1 Điều 49 Luật xử lý vi phạm hành chính thì: “…Chấp hành viên thi hành án dân sự đang thi
hành công vụ có quyền:
a)
Phạt cảnh cáo;
b)
Phạt tiền đến 500.000 đồng…”.
Và theo quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 52
Nghị định 110/2013/NĐ-CP thì “…Phạt tiền
từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Không thực hiện công việc phải làm, không chấm dứt
thực hiện công việc không được làm theo bản án, quyết định…”.
Đối chiếu giữa thẩm quyền xử phạt của
Chấp hành viên với mức phạt về hành vi không thực hiện công việc phải làm,
không chấm dứt thực hiện công việc không được làm theo bản án, quyết định là có
sự mâu thuẫn. Luật THADS giao quyền cho Chấp hành viên được quyền xử phạt nhưng Luật xử lý vi phạm
hành chính và Nghị định số 110/2013/NĐ-CP lại làm mất quyền xử phạt của Chấp
hành viên. Vì rằng, với mức phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng lại thuộc
thẩm quyền của Cục trưởng Cục THADS.
Đây là sự mâu thuẫn trong quy định
giữa Luật THADS với Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số
110/2013/NĐ-CP của Chính phủ, gây không ít khó khăn cho Chấp hành viên khi thực
thi nhiệm vụ. Vì muốn xử phạt được những hành vi vi phạm hành chính này Chấp
hành viên phải lập hồ sơ, văn bản đề nghị Cục trưởng Cục THADS ra quyết định xử
phạt. Và như vậy, việc thi hành án sẽ kéo dài không kịp thời và điều quan trọng
là làm giảm vai trò, giảm thẩm quyền của Chấp hành viên.
Đề xuất, kiến nghị:
Một là: Đề nghị xem xét sửa đổi, bổ sung một số
quy định về XPVPHC trong THADS theo hướng phù hợp giữa hành vi và thẩm
quyền xử phạt; tăng thẩm quyền xử phạt của chấp hành viên và cơ quan
THADS cấp huyện, nhằm đảm bảo cho việc xử lý thuận lợi, nhanh chóng,
hiệu quả, tránh tình trạng kéo dài thời gian do phải đề nghị cấp
trên quyết định xử phạt. Đề xuất xem xét ban hành Thông tư hướng dẫn chi tiết những nội dung
chưa rõ ràng, những nội dung còn mâu thuẫn. Mặt khác cần hướng dẫn rõ ràng về
trình tự, thủ tục, thành phần tham gia trong việc lập biên bản vi phạm hành
chính.
Hai là: Cần thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm
tra việc XPVPHC trong hoạt động THADS, đảm bảo nguyên tắc mọi hành
vi vi phạm hành chính được phát hiện phải được xử lý kịp thời. Tăng cường công
tác quản lý nhà nước đối với hoạt động XPVPHC trong công tác THADS.
Ba là: Cần đẩy mạnh hơn nữa việc phổ biến, tuyên
truyền sâu rộng các nội dung của pháp luật xử lý vi phạm hành chính để nâng
cao nhận thức của các cơ quan THADS đối với việc xử lý vi phạm hành chính trong
hoạt động THADS.
Nâng cao chất lượng
công tác xử lý VPHC trong THADS là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cần thiết
để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật đồng thời đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ
của công tác THADS trong tình hình hiện nay./.
Đồng tác giả: Ths. Đinh Duy Bằng và Ths. Hoàng Thanh Hoa
( Bài viết đăng trên Cổng thông tin điện tử Tổng Cục THADS ngày 13/3/2018)
http://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/NghienCuuTraoDoi/View_Detail.aspx?ItemID=862
[1]
Công Hoàng, Xử phạt vi phạm hành chính trong THADS vướng mắc nhìn từ
thực tiễn, http://thads.moj.gov.vn/binhdinh/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx?itemid=15,
ngày trc: 08/3/2018
http://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/NghienCuuTraoDoi/View_Detail.aspx?ItemID=862
[1]
Công Hoàng, Xử phạt vi phạm hành chính trong THADS vướng mắc nhìn từ
thực tiễn, http://thads.moj.gov.vn/binhdinh/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx?itemid=15,
ngày trc: 08/3/2018
[2] Khoản 1
Điều 17 Luật THADS.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét